Tổng thống Mỹ Donald Trump đã buộc phải kêu gọi nhiều quốc gia tham gia vào một liên minh để mở lại eo biển này. Tuy nhiên, giới chuyên gia đánh giá đây là nhiệm vụ đầy thách thức cả về chính trị lẫn quân sự.

Bản đồ eo biển Hormuz. Ảnh minh hoạ: REUTERS/Dado Ruvic

Hôm 14/03, Tổng thống Mỹ Donald Trump nêu ý tưởng về một liên minh hải quân, kêu gọi Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc và Anh cử chiến hạm hộ tống tàu dầu đi qua eo biển Hormuz, yết hầu quan trọng trong giao thương dầu mỏ toàn cầu, với ước tính khoảng 20% lượng dầu thô và khí hóa lỏng của thế giới được vận chuyển từ các cường quốc dầu mỏ ở vùng Vịnh qua eo biển này để xuất khẩu tới toàn thế giới. Nhà lãnh đạo Mỹ chỉ trích phản ứng còn dè dặt của nhiều nước đối với đề nghị cử tàu chiến hộ tống các tàu chở dầu qua khu vực. Ông nhấn mạnh những quốc gia được hưởng lợi từ tuyến vận tải năng lượng này cần “tham gia nhanh chóng và tích cực hơn” để đảm bảo an ninh hàng hải. Tổng thống Mỹ thậm chí còn cảnh báo các đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương (NATO) về một “tương lai rất tồi tệ” nếu họ từ chối tham gia hỗ trợ đảm bảo an ninh tại eo biển Hormuz. Theo ông, việc các nước hưởng lợi từ tuyến vận tải này tham gia bảo vệ là điều “hoàn toàn hợp lý”.

Tuy nhiên, đề xuất của ông chủ Nhà Trắng nhanh chóng vấp phải phản ứng dè dặt từ các nước và sự hoài nghi từ giới chuyên gia về tính khả thi. Ngay cả các quốc gia đồng minh thân thiết nhất của Mỹ cũng phản ứng thận trọng. Thủ tướng Anh Keir Starmer cho biết London đang phối hợp với các đối tác để xây dựng một kế hoạch khả thi nhằm khôi phục hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz, song khẳng định đây sẽ không phải là một sứ mệnh của NATO.

Bà Kaja Kallas, Đại diện cấp cao về Chính sách Đối ngoại và An ninh của Liên minh châu Âu, phát biểu trong một cuộc họp báo tại Brussels, Bỉ, ngày 16/3/2026. Ảnh: REUTERS/Omar Havana

Hôm 16/03, Đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh của Liên minh châu Âu (EU), bà Kaja Kallas tuyên bố:“Đây không phải là một cuộc chiến của châu Âu và đối với tình hình hiện nay trong khu vực, chúng tôi đã có chiến dịch Aspides ở Biển Đỏ và không quốc gia thành viên nào có ý muốn thảo luận việc mở rộng chiến dịch Aspides sang eo biển Hormuz. Không ai muốn chủ động liên quan đến cuộc chiến này và tất cả đều lo ngại về kết cục có thể xảy ra”.

Theo giới quan sát, sự e dè và thận trọng này xuất phát từ rủi ro quá lớn mà chiến dịch mở cửa eo biển Hormuz đặt ra. Theo chuyên gia an ninh hàng hải Alexandru Hudisteanu, từng công tác trong hải quân Romania, thách thức lớn nhất với kiểu liên minh mà ông Trump đề xuất chính là khả năng phối hợp tác chiến giữa các đơn vị có học thuyết và cách hoạt động khác nhau. Ngoài ra còn có yếu tố địa lý của eo biển Hormuz. Theo Hudisteanu, đây là "khu vực cực kỳ khắc nghiệt để di chuyển trong bối cảnh chiến tranh", các tàu phải đối mặt với mối đe dọa từ tên lửa, thủy lôi, thiết bị không người lái. Do đó, việc triển khai tàu chiến hộ tống tàu thương mại là lựa chọn rủi ro, dễ bị cuốn vào xung đột.

Nhà phân tích địa chính trị và an ninh Michael Horowitz đồng tình với lập luận trên. Theo ông Michael Horowitz, bảo vệ tàu thuyền là canh bạc rất lớn và về mặt tác chiến, khi các khí tài đi vào một hành lang hàng hải rất hẹp, khả năng bị tấn công ở cự ly gần là rất cao, do đó, chỉ sức mạnh trên không và trên biển là chưa đủ, cần phải có lực lượng trên bộ tại các khu vực trọng yếu dọc bờ biển để vô hiệu hóa những mối đe dọa này

Hiện vẫn chưa rõ những quốc gia mà Tổng thống Trump nhắc tên sau cùng sẽ hành động thế nào nếu một cuộc khủng hoảng kinh tế thực sự xảy ra, nhưng hiện tại, một vài quốc gia, trong đó có các nước châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Italia) cho biết có thể hỗ trợ đảm bảo an ninh ở eo biển Hormuz, nhưng chưa nêu cụ thể mức độ tham gia.

Kevin Rowlands, Cựu sĩ quan hải quân Hoàng gia Anh và hiện là biên tập viên tại Tạp chí của RUSI, cho rằng các nước châu Âu có lợi ích kinh tế lớn tại khu vực Trung Đông và cũng phần nào có năng lực can thiệp, nhưng các nước này cũng có thể sẽ cân nhắc các phương án ít rủi ro hơn, bao gồm đẩy mạnh các chiến dịch ngoại giao bí mật, hoặc thúc đẩy lực lượng của các quốc gia trong vùng tham gia. “Các nước châu Âu thực sự có năng lực tham gia nhưng tôi nghĩ câu hỏi ở đây là họ có nên tham gia hay không, hay sẽ tốt hơn là việc sử dụng các lực lượng tại khu vực để bảo vệ lợi ích của chính họ. Các nước, như: Các Tiểu Vương quốc Arab thống nhất (UAE), Oman, Saudi Arabia, Bahrain và Qatar đều có lợi ích trong việc này bởi chính các giếng dầu hay các đường ống dẫn dầu của họ đang bị đe dọa và cần được bảo vệ. Các quốc gia này cũng có năng lực hải quân và không quân đáng kể và có thể đóng góp phần nào”.

Với các quốc gia khác không phải là đồng minh của Mỹ (như Trung Quốc), lời kêu gọi của ông Donald Trump về việc tham gia vào một liên minh tại Hormuz thậm chí có thể bị xem là “kỳ quặc”. Trung Quốc là đối tác kinh tế và an ninh quan trọng với Iran và được cho là nằm trong số những quốc gia có thể an toàn đi qua eo biển Hormuz mà không phải e ngại các rủi ro quân sự.

Điều này cũng phù hợp với các tuyên bố gần đầy từ Iran rằng eo biển Hormuz không bị đóng và lực lượng quân đội nước này chỉ nhằm mục tiêu vào Mỹ, Israel và các đồng minh của hai nước này. Ngoài những yếu tố trên, Kevin Rowlands cho rằng một thách thức rất lớn với việc mở lại eo biển Hormuz thông thoáng là tâm lý và tính toán của chính các hãng tàu, khi lo ngại bị tấn công và phí bảo hiểm quá cao khiến lợi ích kinh tế của việc vận chuyển hàng qua eo biển Hormuz bị bào mòn.

Lloyd's List Intelligence, công ty phân tích vận tải biển hàng đầu, nhận định ngay cả khi tàu chiến Mỹ hộ tống tàu dầu đi qua eo biển Hormuz, sự thận trọng sẽ khiến tốc độ di chuyển giảm đi đáng kể, lưu lượng tàu cũng giảm xuống còn 10% so với thông thường. Với tỷ lệ này, sẽ phải mất hàng tháng để có thể giúp giải tỏa hàng ngàn con tàu thương mại đang mắc kẹt trong Vùng Vịnh